Trở lại Trang Đầu
    ENGLISH

HQTYSVNTD

 ►Tin Tức

Y Học Thường Thức

Nhân Quyền

Văn Hóa & Nghệ Thuật

 ►Diễn Đàn
 ►Computer & Internet

Nối Kết

 
Tin Đặc Biệt
 
Đại Hội Úc Châu 2004
Giải Văn Học 2004
BS Nguyễn Đan Quế
BS Phạm Hồng Sơn
 
 
 
 

 Diễn Đàn


 
 
 
Viết Đọc Chữ Việt Trên
    Computer Và Internet
BS Nguyễn Đan Quế
BS Phạm Hồng Sơn
Mạng Lưới Nhân Quyền
 
Lịch Sử Thành Lập
        HQTYSVNTD
Điều Lệ & Nội Qui
Ấn Phẩm
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Tuổi thơ Việt Nam                                                                           Cấn Thị Bích Ngọc (Canada)

Xoay quanh đề tài chính trị                                                               Cấn Thị Bích Ngọc (Canada)

Vụ kiện không của riêng ai                                                               Trần Gia Phụng (Canada)

Nguyễn Đan Quế và khát vọng tự do, dân chủ                                    Cấn Thị Bích Ngọc (Canada)

Những trăn trở của Phạm Hồng Sơn                                                  Cấn Thị Bích Ngọc (Canada)

Thư gửi Nguyễn Vũ B́nh                                                                   Trương Minh Dũng (Canada)

Ven bờ Thái B́nh Dương                                                                   Phạm Hữu Trác (Canada)

Tuổi trẻ Việt Nam                                                                            Cấn Thị Bích Ngọc (Canada)

Ư nghĩa một ngày hội                                                                       Phạm Hữu Trác (Canada)

Văn học theo định hướng                                                                 Trần Văn Tích (Germany)

T́nh trạng môi trường Việt Nam sau 30 năm                                      Mai Thanh Truyết (USA)

Tiếng Việt, hồn dân tộc Việt Nam                                                      Thái Minh Trung (USA)

Kinh nghiệm hành quân tại Iraq                                                 Lưu H., Thiếu Tá Quân Y Quân Đội Hoa Kỳ
 


Xoay quanh đề tài chính trị

Cấn Thị Bích Ngọc

La politique est la science de la liberté
Pierre Joseph PROUDHON (1809-1865)

Trong thời gian gần đây, rất nhiều người dùng câu «Tôi không làm chính trị» để giải thích lập trường của ḿnh (thí dụ, để từ chối không tham gia vào sinh hoạt gây quỹ trợ giúp, xin chữ kư can thiệp cho các nhà đấu tranh dân chủ ở nước nhà, hoặc để giải thích thái độ lănh đạm của họ trước những biến đổi ở Việt Nam).

 

Câu này như một điệp khúc được xử dụng rộng răi trong mọi trường hợp, nó đóng vai tṛ chiếc ch́a khóa thần kỳ giúp người ta nhanh chóng thoát ra những cảnh ngượng ngập, khó xử.

 

Tôi xin nhân dịp này đưa ra một vài suy nghĩ vụn vặt về danh từ chính trị. Hẳn nhiên, chữ Chính Trị ở đây chỉ mang một ư nghĩa đơn giản, thông dụng trong sinh hoạt thường nhật của chúng ta chứ tôi không đủ kiến thức lẫn sự ham thích để luận bàn về Chính Trị của những chính khách chuyên gia, xử dụng chính trị để nắm chính quyền.

 

Chính trị có muốn quên đi cũng chẳng xong, chính trị đầy rẫy chung quanh ta, bao bọc, xâm nhập, tác động đời sống con người, dù ta có muốn thu ḿnh vào vỏ ốc. Sáng dậy mở TV là thấy chính trị, thâm thủng công quỹ v́ phải có tiền mang quân đi dẹp terrorisme, năm nay thuế sẽ không giảm như lời hứa khi ra tranh cử, tăng thêm là khác. Mở internet, thấy tin hơn 90% dân biểu Mỹ bỏ phiếu chấp thuận phải ghi mục ràng buộc viện trợ cho Việt Nam vào với Nhân Quyền, v́ nhà cầm quyền Việt Nam tham ác nhận tiền mà vẫn đàn áp tôn giáo, bắt bớ thiền sư linh mục đi tù, dân th́ không có một tờ báo độc lập.

 

Đi làm ghé đổ xăng, mắc hơn hôm qua chút ít, chợt nhớ báo nói mỗi lít xăng, chính phủ đánh thuế 45 xu. Tiền đó để làm ǵ, bầu cử 40 triệu mùa xuân năm tới, bù lấp thiếu hụt ngân sách do đảng cầm quyền nhiệm kỳ trước để lại, cuộc trưng cầu dân ư năm xưa đ̣i tách rời Québec h́nh như cũng đă thâm thủng mấy trăm triệu. Xe buưt đ́nh công, cán bộ nghiệp đoàn cầm biểu ngữ. Đó là những h́nh ảnh chính trị đập vào óc, vào tim, ta dù muốn sống như cỏ cây cũng không thoát được những chi phối này.

 

Xin nhắc lại vài đoạn của Đinh Linh ghi trên báo Ngàn Thông do nhóm bạn trẻ chủ trương. Nhà văn Đinh Linh qua Mỹ năm 1975 lúc mới 11 tuổi, anh thông thạo cả hai ngôn ngữ Anh-Việt, làm thơ, viết văn, dịch sang tiếng Mỹ những truyện ngắn từ Việt Nam trong Đêm Lại Xuống. Hỏi về quan hệ văn chương và thời cuộc trên văn nghệ sĩ, anh phát biểu: «Người trí thức phải suy nghĩ cho đến nơi đến chốn những vấn đề chính trị, v́ chính trị nhiễm vào tất cả các phạm vi đời sống. Nếu anh có cái nh́n lệch lạc về chính trị th́ anh sẽ khó hiểu những yếu tố lịch sử, xă hội và đời sống nói chung».

 

Để hiểu chính trị chi phối sinh hoạt văn chương trong nước thế nào, hăy nghe Đinh Linh: «Cái tức cười nhất về sinh hoạt văn chương ở trong nước là cái Hội Nhà Văn. Phải ngoan lắm mới được vô hội này... Hội Nhà Văn luôn luôn theo chỉ đạo của nhà nước. Mỗi khi một nhà văn nào bị nhà nước đàn áp th́ Hội Nhà Văn lại rất b́nh thản và im thin thít. Thậm chí nhiều khi Hội Nhà Văn lại c̣n hùa theo Anh Cả để nạt chính hội viên ḿnh».

 

Lấy chuyện Đinh Linh để nhớ lại những lời của các vị khuyên bảo chúng ta không nên làm chính trị, tôi nghĩ rằng chúng ta không có tài làm chính trị, không có sức làm chính trị, nhưng không phải v́ thế mà chúng ta không có thái độ về ư nghĩa và thực chất sự có mặt của ḿnh trên mảnh đất này. Chúng ta ở cái tuổi lỡ cỡ, người theo cha mẹ đi từ 75, kẻ đi sau chật ních trên thuyền nhỏ, có kẻ sanh ở bên này, ra đường cái visibilité nó cứ lồ lộ ra, không hề che dấu. Lúc hết công việc hàng ngày, ta cứ tự hỏi về ta, mà lời đáp c̣n mông lung bàng bạc. Hiểu cái tâm lư nặng nề đó đè nặng trên chúng ta, «người ta» bảo chúng ta quên đi, và «đừng làm chính trị»...

 

Vừa rồi, đi nghe một buổi diễn thuyết về kinh tế, ông giáo sư thao thao về phát triển kinh tế, bảo rằng hăy quên đi để xây dựng. Có người đặt vấn đề dân chủ, xă hội như một điều kiện tất yếu để phát triển, ông nói ông không làm chính trị. Về sau mới vỡ lẽ ông đi du học bằng tiền của miền Nam, bây giờ được mời về cho một ân huệ, ông chỉ lập lại bài học chiêu dụ «quên đi» của cựu Thủ tướng Vơ Văn Kiệt, trong lúc đảng của ông vẫn mạt sát người có ḷng yêu nước, vẫn kiêu hănh với kỷ niệm này nọ hàng năm hàng tháng... Không biết ông và ông Kiệt có mắc chứng Alzheimer?

 

Ở hải ngoại, nhiều người có ḷng quyên tiền cứu lụt, cứu đói, cứu trẻ em bất hạnh, khuyết tật, nhưng khi đặt vấn đề tương trợ những người vô tội trong ṿng lao lư th́ lại viện cớ không làm chính trị. Trong phạm vi y giới trong nước, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn đáng lẽ có thể sống sung túc, nhưng lại mạnh miệng chống lại độc tài, bị bỏ tù năm mười năm, cách ly gia đ́nh, nhận quà tiếp tế của vợ qua công an mà không được cho phép gặp mặt; có thể nào anh sẽ bị chủ trương «không làm chính trị» bỏ quên trong lạnh lẽo mùa đông miền Bắc? Không chỉ Phạm Hồng Sơn, bao nhiêu người trẻ đồng lứa tuổi can đảm hô hào dân chủ hóa giữa ḷng địch cũng đang bị hành hạ chốn lao tù. Xin hăy đừng quên những chiến sĩ can trường này.          

 

Thật ra chủ nghĩa Quên, và không làm chính trị nếu ta áp dụng được, có lẽ sẽ làm cho cuộc sống bên này thanh thản hơn. Ta không c̣n phải nhức nhối bận tâm ta chỉ là một thiểu số may mắn được hưởng những tiện nghi vật chất, tâm linh trong khi 80 triệu đồng bào đă 28 năm qua, ao ước được một phần nếp sống an b́nh no ấm của chúng ta tại hải ngoại. Nếu quên được, ta không c̣n phải nghĩ đến hàng trăm ngàn nạn nhân đă vùi ḿnh dưới biển sâu hay đă sa tay hải tặc cũng chỉ v́ hai chữ Tự do, một từ đă trở thành quá b́nh thường quen thuộc với chúng ta. Chỉ sợ một lúc nào đó, quê hương vẫn ch́m trong sắc cờ máu bạo tàn, đất nước chùng chằng những bước đi lạc hậu trong khi cả thế giới đang chuyển ḿnh vươn đến ánh sáng văn minh, Việt Nam sẽ không c̣n là niềm tự hào của các thế hệ sau này.

 

Bởi những trang sử hào hùng của hơn 4000 năm dựng nước đă không bao giờ được biết đến. Ngay trước mắt nhiều người đă rất thờ ơ với vận mạng đất nước. Ta sẽ có tự hỏi ta đă giữ phần nào trách nhiệm trước sự suy vong này. Ngay chính giờ phút này, có bao giờ ta tự hỏi tại sao Việt Nam đă không nối gót các nước đàn anh trong ngọn trào dân chủ của thập niên 90. Qua ngọn sóng dân quyền này, bao thành tŕ cộng sản kiên cố nhất đă bị sụp bại như bức tường ô nhục Bá Linh và những bức tượng Lê-nin khổng lồ. Đức, Nga và nhiều nước Đông Âu khác đă thoát ra được gọng kềm Cộng sản, t́m về thế giới tự do. Tất nhiên, câu trả lời chứa đựng nhiều ẩn số phức tạp. Nhưng có bao giờ ta đặt vấn đề: sự thờ ơ của nhiều đồng bào lưu vong cũng là một phần của bài đáp số???

 

Cộng đồng người Việt hải ngoại có thể trở thành hậu phương mạnh mẽ cho công cuộc đấu tranh kiến tạo dân chủ. Đại đa số giới trẻ lưu vong là thành phần tinh hoa của dân tộc khiến các đoàn thể Việt kiều của mọi lớp tuổi hội đủ những điều kiện thiết yếu: nhân lực và tài lực lại thêm khả năng vận động dư luận thế giới. Có sự hậu thuẫn hùng mạnh như thế, tinh thần những người trong nước càng thêm phấn chấn. Sức mạnh quần chúng luôn là vũ khí lợi hại có thể lật đổ một chính thể bạo quyền.

 

Chúng ta may mắn đă có lịch sử phong phú của một dân tộc hào hùng. Hội Nghị Diên Hồng là chứng tích của tinh thần bất khuất của toàn dân Việt. Bổn phận của chúng ta là tiếp tục bước đi của tiền nhân. Hăy để lịch sử sau này khi viết về chúng ta sẽ là những người tha hương nhưng luôn hoài niệm xây đắp cho một xứ sở nghèo nàn oằn oại dưới ṿng kềm tỏa của gông cùm đỏ. Đừng để lịch sử phê phán chúng ta như những kẻ may mắn nhưng đă bị ru mê bởi những tiện nghi êm ái. Đừng để lịch sử nói về một tập thể lưu vong lỏng lẻo với những chia rẽ, rất hững hờ trước bao trầm luân nơi đất mẹ.

 

Với những lư do nêu trên, tôi e rằng ta không thể và không nên quên những xuất xứ cội nguồn của ḿnh. Ngày bé tôi vẫn ghét và sợ hai chữ Chính Trị. Nhưng từ khi khoác vào người danh hiệu tỵ nạn chính trị, th́ hai chữ này đă dính vào đời ta như một nghiệp vận, như một ràng buộc quá khứ hiện tại và tương lai. Như để an ủi, một nhà văn đă nói: «Làm chính trị trong nghĩa nhân bản, là cùng người khác hành động để tạo điều kiện cho con người học làm người, thành người, không ngừng phát triển nhân tính của ḿnh, của đồng loại. V́ chính trị trong nghĩa sâu sắc của nó, là kích thước cơ bản nhất của con người».

 

Theo thiển ư, nếu làm chính trị có thể mang lại sự tự do dân chủ cho 80 triệu người Việt Nam, có thể cứu lấy một đất nước Việt Nam đang cạn kiệt trong đói khổ, bệnh hoạn, dốt nát, để Sài-g̣n không c̣n là thành phố Hồ Chí Minh với những băng hoại buôn người, ăn xin, tham ô; nếu làm chính trị có thể tạo điều kiện cho các em nhỏ thư thái đến trường thay v́ lê lết ngoài đường phố t́m kế mưu sinh, có thể mang lại cho dân Việt một đời sống tư duy an ổn thay v́ luôn phập phồng nhịp thở trong lo âu sợ hăi; vâng, tôi xin từ bỏ thành kiến ngày xưa để xin được học làm chính trị. Xin các bậc trưởng thượng c̣n tâm huyết dân tộc chỉ cho một hướng đi. Xin các vị hăy chứng tỏ cho con em ḿnh là các vị đă không bao giờ quên.

 

Theo tinh thần này, tôi xin ghi lại nơi đây ḷng cảm phục đối với chí khí thép gan của hơn 50 hội đoàn bạn trẻ bên trời Úc trong công cuộc vận động vừa qua buộc đài truyền h́nh SBS phải đ́nh chỉ ngay tức khắc việc phát hành chương tŕnh thời sự của VTV4 nhiễm đầy tính cách tuyên truyền cho Cộng Sản Việt Nam. Khí thế của các bạn có thể chăng là một bằng cớ hùng hồn là các bậc cha mẹ đă luôn nhớ và trao lại cho thế hệ trẻ một truyền thống đấu tranh cho chính nghĩa.

 

Bây giờ tôi không muốn quên, và cũng không quên được nữa.

                                                                                       

Montréal, 30/12/2003

Cấn Thị Bích Ngọc

                                                                                                      


VỤ KIỆN KHÔNG CỦA RIÊNG AI

 

Trần Gia Phụng ghi

                                                                                                        

Trong dịp đến thăm Montréal vừa qua, tôi đă gặp “Người tù kiệt xuất” Nguyễn Hữu Luyện tại nhà bác sĩ Phạm Hữu Trác vào lúc 9 giờ sáng ngày Thứ Bảy 24-4-2004.  “ Người tù kiệt xuất” là tựa đề một bài báo của kư giả Lô Răng Phan Lạc Phúc viết về anh Nguyễn Hữu Luyện trong thời gian anh bị giam cầm trong nhà tù Cộng Sản Việt Nam.  Bài báo xuất hiện đă lâu, rất nổi tiếng, hầu như ai cũng đă đọc, nên xin không nhắc lại ở đây.  Được biết anh Luyện hiện là nguyên đơn chính trong vụ kiện Trung tâm William Joiner Center (WJC), chúng tôi liền nhập đề ngay vào câu chuyện nầy.

 

Trước khi thuật lại cuộc nói chuyện, có lẽ nên biết sơ qua về cả hai bên.  Anh Nguyễn Hữu Luyện nguyên là đại uư Biệt kích Dù, nhảy toán ra Bắc Việt, và bị bắt năm 1966.  Anh bị chuyển đi khắp các trại tù ở Bắc Việt, cho đến năm 1987 mới được thả ra.  Năm 1993, anh Luyện cùng vợ qua Hoa Kỳ theo chương tŕnh HO, để bảy người con ở lại Việt Nam.  Anh hiện định cư tại Boston, tiểu bang Massachussetts.

 

Wiiliam Joiner Center được thành lập năm 1982, do Kevin Bowen làm giám đốc, là trung tâm nghiên cứu thuộc Viện đại học UMass Boston.  Chương tŕnh nghiên cứu về người tỵ nạn cộng sản của WJC do ông Nguyễn Bá Chung làm giám đốc.  Cuộc nghiên cứu về hậu quả chiến tranh Việt Nam của trung tâm nầy dựa trên những kết luận cho một mục đích có trước.  Ví dụ họ cố t́nh xuyên tạc chiến tranh Việt Nam, xem chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và cộng sản, mà quên đi thành phần chính là dân chúng Việt Nam, nạn nhân của cuộc chiến tranh xâm lược của đảng CSVN.  Họ ca tụng CSVN và ngược lại mạt sát chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa.  Họ tuyển lựa những tác giả cộng sản trong nước Việt Nam hiện nay để viết về Cộng đồng người Việt (CĐNV) hải ngoại, mà theo một cựu chiến binh QLVNCH, ông Trần Bá Đàm ở Toronto, đă viết rằng “không khác ǵ thuê Đức Quốc Xă viết về người Do Thái”.

 

Để hiểu rơ vấn đề, xin mời quư vị theo dơi nội dung cuộc nói chuyện của chúng tôi với anh Nguyễn Hữu Luyện (NHL), có ghi âm với sự đồng ư của anh Luyện.

 

Câu hỏi 1:  Thưa anh, anh có thể vui ḷng cho biết lư do anh đến Montréal lần nầy?

 

NHL:  Thưa anh, nhân dịp lễ Giỗ Tổ Hùng Vương do Cộng Đồng Người Việt vùng Montréal tổ chức ngày 25-4-2004, Nhóm Bảo Vệ Danh Dự Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đưa tôi sang đây để tŕnh bày về “Vụ kiện WJC / UMass Boston”.

 

Câu hỏi 2:  Anh có thể cho biết lư do v́ sao anh và  các nguyên đơn khác đứng ra kiện vụ nầy?

 

NHL:  Thưa anh, tôi nghĩ rằng v́ có cơ duyên may mắn mà tôi được biết cặn kẽ về chương tŕnh nghiên cứu nầy.  Sau khi đọc tập tài liệu về việc thực hiện Chương Tŕnh nghiên cứu (Rockefeller Humanities Fellowship – Umass Boston Program Plan), tôi rất lo sợ v́ tập tài liệu nầy đă đưa ra hai điểm rất đáng lo ngại: thứ nhất họ chủ trương đưa người từ Việt Nam qua đây để viết Chương tŕnh nầy.  Thứ hai mục đích của Chương tŕnh nầy nhằm tạo ra sự ḥa hợp giữa người tỵ nạn cộng sản (CS) với chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN) ngày nay.

 

Đây là một vấn đề chúng ta không thể nào chấp nhận được, v́ nếu chúng ta ḥa hợp với chế độ CS th́ việc đầu tiên là chúng ta đă phản bội lư tưởng ban đầu khi chúng ta bỏ nước ra đi.  Chúng ta ra đi là để tỵ nạn CS, mà bây giờ chúng ta quay trở về hợp tác với chế độ CS, th́ việc ra đi của chúng ta hoàn toàn không có chính nghĩa.

 

Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi có trách nhiệm phải thông báo vấn đề nầy cho đồng bào khắp nơi trên thế giới biết rơ  âm mưu của Viện Đại học UMass Boston, một viện đại học công lập thuộc tiểu bang Massachusetts.  Đồng bào đă viết thư phản kháng gởi đến ba địa chỉ: Rockefeller Foundation, nơi cung cấp tài chánh; Trung tâm William Joiner là nơi thực hiện chương tŕnh nầy; và thứ ba là Viện trưởng Viện Đại học UMass Boston.

 

Qua gần nửa năm cộng đồng người Việt đă dùng nhiều h́nh thức phản đối như gửi kháng thư, vào họp với WJC để t́m lối thoát cho vấn đề này nhưng không có hiệu quả, Cộng đồng người Việt (CĐNV) tại tiểu bang Massachussetts đă tổ chức một cuộc biểu t́nh ngay trước Viện Đại học UMass Boston nhân dịp hai ứng viên tổng thống là Al Gore và Georges Bush có cuộc tranh luận tại đây vào năm 2000.  Cuộc biểu t́nh gồm khoảng 300 đồng bào VN, đă được nhiều cơ quan truyền thanh, truyền h́nh và báo chí Mỹ tới thâu h́nh, phỏng vấn các thành viên.  Đài Fox News (Hoa Kỳ) cũng đă đưa sự việc nầy lên màn ảnh truyền h́nh, nhưng Viện Đại học UMass Boston vẫn tiếp tục làm ngơ.

 

Bây giờ chỉ c̣n một giải pháp duy nhất là chúng ta đưa họ ra ṭa án và dùng bản án để phế bỏ cái giá trị của chương tŕnh nghiên cứu nầy bởi v́ hai lẽ:  Thứ nhất chúng ta đă có những bằng chứng rất rơ ràng là WJC đă gian lận trong việc thực hiện chương tŕnh nghiên cứu và những gian lận đó chứng tỏ họ đă kỳ thị chống lại cộng đồng người Mỹ gốc Việt, cũng như chống lại tất cả các CĐNV khắp nơi trên thế giới.  Thứ hai là họ đă vi phạm luật thuê mướn người trong khi họ tuyển dụng nghiên cứu viên để  viết Chương tŕnh nầy.

 

Nhóm nguyên đơn gồm có 12 người đă dùng tố quyền “class action” [đại diện tập thể] để khởi tố WJC.  “Class action” là một vụ kiện có tính cách đại diện.  Theo luật pháp của Hoa Kỳ, khi nhiều người bị thiệt hại do bị cáo  gây ra, th́ chỉ cần nêu tên vài người và có trường hợp, một người cũng có thể tiến hành “class action” và được luật pháp nh́n nhận tư cách đại diện để thay mặt cho tất cả những người cùng chịu chung thiệt hại do bị cáo gây ra.

 

Ở Hoa Kỳ cũng như các nước phương tây, chúng ta hiểu rằng các trường đại học có quyền tự trị đại học (academic freedom) rất lớn, rất mạnh, luật pháp không bao giờ đụng chạm tới.  Ngoài ra, ở Hoa Kỳ quyền tự do ngôn luận hầu như là tuyệt đối, ví dụ hiện nay xuất hiện nhiều quyển sách đả kích gay gắt ngay chính đương kim tổng thống của Hoa Kỳ về cuộc chiến tranh Iraq mà luật pháp không thể can thiệp được.

 

Quyền tự trị đại học cho phép các giáo sư, sinh viên đại học có quyền phát biểu bất cứ một ư kiến hay quan điểm nào liên quan đến những vấn đề thời sự trong và ngoài nước, mà không hề có trách nhiệm trước luật pháp.  V́ thế chúng ta không thể dùng luật pháp để ngăn chận việc làm của WJC, nhưng chúng ta có thể dùng luật pháp để phế bỏ giá trị của Chương tŕnh nghiên cứu nầy; v́ khi họ nghiên cứu về CĐNV mà họ lại bị chính CĐNV đưa họ ra ṭa và ṭa án đă kết tội họ là đă KỲ THỊ chống lại CĐNV, tức là họ đă kỳ thị chống lại chủ đề mà họ nghiên cứu.  Như thế việc nghiên cứu của họ không c̣n một chút ǵ gọi  là vô tư nữa.  Trong khoa nghiên cứu nhân văn, vô tư là giá trị cao nhất, v́ thiếu vô tư, người đọc sẽ hiểu lầm cái giá trị đích thực của đối tượng được nghiên cứu.  Do đó, bản án kỳ thị đối tượng được nghiên cứu sẽ biến chương tŕnh nghiên cứu này thành đống giấy lộn nằm trong thư viện nghiên cứu.  Các nhà nghiên cứu, các học giả không bao giờ lại tham khảo một tài liệu đă bị Toà Án kết tội kỳ thị chính đối tượng nghiên cứu.

 

Câu hỏi 3:  Cảm ơn anh, có ư kiến cho rằng tại sao không dùng số tiền đi kiện để viết sách phản bác lại thủ đoạn xuyên tạc của nhóm viết chương tŕnh nghiên cứu của WJC mà lại đi kiện cho tốn kém, anh có nhận xét ǵ về ư kiến nầy?

 

NHL:  Xin cảm ơn anh đă nêu một câu hỏi rất quan trọng, v́ câu hỏi nầy đă cho tôi cơ hội để bày tỏ ư nghĩa quan trọng của vụ kiện.  Trước hết, trong đời sống văn học (literature) cũng như đời sống học thuật (academia) của Hoa Kỳ nói chung, th́ những tài liệu viết được chia làm hai loại:

 

Thứ nhất là loại “opinion” (quan điểm), là những sách được viếr ra theo quan điểm cá nhân của tác giả.  Dù tác giả loại nầy là một học giả hay trí thức có uy tín đến đâu đi nữa, th́ cũng được xếp theo loại “opinion”.  Các sách được xếp vào loại “opinion” chỉ có mặt trong thư viện công cộng (public library), chứ không vào trong các thư viện nghiên cứu.

 

Thứ hai là loại viết theo chương tŕnh nghiên cứu.  Đời sống văn học Hoa Kỳ nằm trong thư viện nghiên cứu.  Nói đến chương tŕnh nghiên cứu th́ phải do các cơ quan có thẩm quyền và được uỷ nhiệm; ví dụ các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu mới đủ tư cách để thực hiện.  V́ thế, muốn có một chương tŕnh nghiên cứu về CĐNV th́ phải được các trường đại học hay các trung tâm nghiên cứu thực hiện.

 

Nếu chúng ta tập trung các học giả hay các nhà văn nổi tiếng nhất để viết sách, th́ chúng ta cũng chỉ tạo ra được những tác phẩm thuộc về loại ư kiến cá nhân, và những tác phẩm đó không thể tồn tại theo thời gian.  Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của WJC lại được lưu giữ lâu dài.  Do đó, chúng ta không dùng số tiền đó để viết sách, mà chúng ta phải kiện và dùng bản án để vô hiệu hoá chương tŕnh nghiên cứu của WJC.  Ngoài ra, khi chúng ta thắng kiện, chúng ta sẽ có một số tiền bồi thường lớn.  Số tiền bồi thường nầy sẽ được cống hiến cho một trường đại học hoặc một trung tâm nghiên cứu có uy tín để thực hiện một chương tŕnh nghiên cứu đúng đắn, vô tư, trung thực về CĐNV nhằm đưa vào kho tàng văn học sử của Hoa Kỳ và của nhân loại một bộ tài liệu chân chính về cộng đồng người Việt từ giai đoạn tỵ nạn tới thời kỳ hậu tỵ nạn [post refugee era]

 

Như mọi người đều thấy, khi bỏ nước ra đi, đă có khoảng nửa triệu người chết trên biển cả.  Những người c̣n lại đều được các nước trên thế giới tự do đón nhận với tư cách là tỵ nạn cộng sản hay tỵ nạn chính trị.  Cho đến nay, luồng văn học chính của CĐNV là luồng văn học chống cộng.  Song song với sự phát triển của luồng văn học chống cộng, cũng có quan điểm của một số người chẳng đại diện cho ai.  Họ là một nhóm vài người đứng tách ra khỏi khuynh hướng chung của cộng đồng, để tạo ra cái tư tưởng gọi là “ḥa hợp”.. Chủ trương nầy đi ngược lại với cái lư tưởng ban đầu của họ.  Giả thiết như 30 năm trước, nếu các ông nầy trả lời với phái đoàn phỏng vấn tới tuyển lựa họ tại các trại tỵ nạn, rằng “chúng tôi ra hải ngoại để mưu cầu việc ḥa hợp giữa những người tỵ nạn cộng sản và chế độ cộng sản”, th́ tôi tin chắc rằng các phái đoàn tuyển lựa sẽ trả các ông nầy trở về Việt Nam ngay tức khắc.  Ba mươi năm sau, họ đă phản bội lại lư tưởng ban đầu của họ.  Chúng ta là những người bỏ chế độ độc đoán để đi t́m tự do.  Chúng ta tôn trọng quyền tự do của những khuynh hướng đi ngược lại với khuynh hướng của chúng ta, tuy không nh́n nhận họ, nhưng chúng ta ghi nhận sự hiện diện của những tư tưởng đó để lịch sử phê phán.  Chúng ta không cần phê phán, chúng ta tôn trọng quyền tự do của họ.  Chúng ta cần có một tập tài liệu phản ảnh trung thực ba chủ đề chính: Thứ nhất, CĐNV ở hải ngoại đă h́nh thành trong bối cảnh lịch sử quốc tế và quốc nội như thế nào?  Thứ hai, CĐNV đă tồn tại và phát triển như thế nào?  Thứ ba, về ư thứ hệ, CĐNV sẽ đi về đâu?

 

Câu hỏi 4:  Thưa anh, như thế cho đến nay vụ kiện diễn tiến như thế nào?  Có những thuận lợi hay trở ngại ǵ không?

 

NHL:  Vụ kiện WJC nầy đă kéo dài hơn ba năm.  Tôi xin lấy tháng 11 năm 2003 làm điểm mốc.  Trước tháng 11 năm 2003, chúng ta có ưu thế pháp lư.  Căn cứ vào những bản hỏi cung của Tổ hợp luật sư cũ do luật sư James Keane đại diện, đă mời tiến sĩ Kevin Bowen, giám đốc WJC, ông Nguyễn Bá Chung, giám đốc Chương tŕnh nghiên cứu, và giáo sư Peter Kiang, một nhân vật chủ chốt trong Hội đồng Thường trực (Standing Committee) của Chương tŕnh nghiên cứu nầy để hỏi cung.

 

Qua lời khai của ba nhân vật chủ chốt trên, luật sư đă t́m thấy những kẻ hở và những câu trả lời của họ mặc nhiên đă xác nhận họ cố t́nh kỳ thị chống lại CĐ người Mỹ gốc Việt trong khi họ tiến hành công cuộc nghiên cứu. 

 

Đến tháng 11- 2003, bên phía bị cáo đă đưa ra một đề nghị là giải quyết bên ngoài ṭa ánsẵn sàng bồi thường 250,000 Mỹ kim và viết một lá thư xin lỗi.  Chính luật sư Keane đă viết thư mời tôi tới văn pḥng để thảo luận vấn đề nầy.  Trong thư mời, luật sư Keane cũng nói là nếu tôi đồng ư, th́ ông sẽ viết thành văn bản để gởi cho các nguyên đơn khác trong “class action” để phê chuẩn.  Luật sư Keane dặn tôi đừng tiết lộ vấn đề nay trước khi kết thúc, nhưng v́ tôi có trách nhiệm với cộng đồng về vụ án nên tôi phải loan báo trước dư luận chung của cộng đồng về dự tính của WJC  đề nghị giải quyết bên ngoài toà án và tôi đă từ chối, v́ tôi cần có một bản án để vô hiệu hóa chương tŕnh nghiên cứu của họ.

 

Sau khi bị từ chối, WJC ra thông cáo phủ nhận việc họ xin giải quyết bên ngoài toà án, và chính Luật Sư Keane trắng trợn xác nhận thông cáo này và nói rằng ông ta xin UMass Boston để điều đ́nh ngoài ṭa án chứ không phải là Viện Đại học nầy xin ông ta.  Tôi có nói với luật sư Keane rằng: “Ông chối bỏ những ǵ ông nói, nhưng ông có thể chối bỏ những ǵ ông đă viết trên giấy hay không?

 

Tôi liền đưa thư mời ra.  Ông Keane xem xong, nhún vai nói rằng: “Ồ, thư nầy tôi chỉ mời ông đến để bàn luận về vấn đề giải quyết bên ngoài ṭa án chứ tôi không có nói là bên bị cáo xin bồi thường 250,000 và viết thư xin lỗi.”

 

Tôi tiếp lời rằng: “Trong thư ông nói rất ngắn rằng mời tôi đến để thảo luận vấn đề giải quyết bên ngoài ṭa án và nếu tôi đồng ư th́ ông sẽ viết thành văn bản để các nguyên đơn khác duyệt lại v́ ông c̣n đại diện cho tất cả nguyên đơn khác chứ không phải chỉ đại diện riêng tôi.  Như vậy th́ ông mời tôi ra đây để thảo luận cái ǵ?  Nếu không có vấn đề 250,000 và một lá thư xin lỗi?”  Nghe vậy ông ta nhún vai, không nói ǵ cả.  Sau đó Luật Sư Keane nói rằng ông ta sẽ bỏ vụ kiện nầy.

 

Chúng tôi phải đi t́m luật sư khác.  Rất may mắn là trong các nguyên đơn, có ông Bùi Diễm là cựu Đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ có quen biết nhiều với Tổ Hợp Luật Sư Baker Donelson nên đă đưa tôi tới Tổ hợp Luật sư này.  Đây là một trong 200 tổ hợp luật sư lớn nhất của nước Mỹ, văn pḥng chính đặt tại Washington D. C.  Hai luật sư của Tổ hợp Baker Donelson đứng ra đại diện cho Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt là James C. Duff và Bradley S. Clanton.  Ngày 29-10-2003, hai luật sư mới nhận bàn giao.  Trưa hôm sau (30-10), có phiên “hearing” (điều trần) để hai luật sư mới tŕnh diện chánh án, và để báo cáo hiện trạng của vụ kiện.

 

Ngày 14-4-2004 vừa qua, có phiên điều trần (hearing) tai Ṭa Suffolk Superior tại khu đô thị Boston.  Tôi đến dự cùng với ông Phạm Văn Đảm, Giám đốc Đài phát thanh “Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại” tại Boston, có mang máy thâu âm để thâu lại toàn bộ buổi điều trần do bà chánh án Janet Sanders chủ tọa.  Phiên ṭa này giải quyết nhiều vụ khác nhau.  Trong ṿng 30 phút bà Chánh Án đă giải quyết xong 5 vụ.  Riêng vụ của chúng ta và WJC bắt đầu lúc 2:30 cho tới 5giờ mới kết thúc.

 

Bà chánh án cho luật sư bên bị cáo nói trước.  Vị luật sư nầy mở đầu bằng những lời biện minh dựa trên tổ tiên và nơi sinh đẻ của hai học giả cộng sản là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi [đến từ Hà Nội] để chứng minh rằng họ là người VN như các nguyên đơn.  Thứ hai, luật sư bên bị cáo đă đưa ra những lư luận để đề nghị rằng ngoài Nguyễn Hữu Luyện, các nguyên đơn khác đều phải gạt ra khỏi vụ án v́ những người nầy chưa qua thủ tục của Hội đồng Bài trừ Kỳ thị.  Thứ ba, luật sư bị cáo thỉnh cầu ṭa án chấp nhận cho bị cáo được quyền không giao nộp tài liệu.  Thứ tư là luật sư bị cáo xin đ́nh chỉ việc điều tra.

 

Tiếp theo, là phần tŕnh bày của luật sư nguyên đơn.  Luật sư Bradley Clanton, đại diện CĐNV, đă đặt trước trong pḥng xử một màn ảnh và một máy projector điều khiển bằng computer.  Khi điều trần, luật sư Clanton lập luận như sau:

 

Thứ nhất, ông đă dùng 140 đoạn trích để dẫn chứng rằng hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi và bên nguyên đơn thuộc hai quốc gia khác nhau.  Địa lư chính trị đă tạo nên hai nước Việt Nam (VN) sau Hiệp định Genève năm 1954.  Đó là Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) ở nam vĩ tuyến 17 và Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (VNDCCH) ở bắc vĩ tuyến 17.  Do đó, hành động của WJC là một hành động kỳ thị dựa trên quốc tịch gốc là VNCH; đối lập với hành động của WJC phục vụ lợi ích của nước VNDCCH sau này đổi thành Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN).

 

Thứ hai, luật sư Clanton đă dùng những đoạn trích trong các tài liệu do chính WJC và UMass Boston phát hành, để chứng minh rằng họ đă vi phạm Luật kỳ thị, bởi v́ chính giám đốc chương tŕnh nghiên cứu là ông Nguyễn Bá Chung đă viết chính quyền miền Nam là một bọn theo chân thực dân và  phản lại lịch sử Việt Nam, trong khi đó th́ Hồ Chí Minh có chính nghĩa, công lư xă hội v.v..  Khi nghe LS Clanton tŕnh bầy đến đây th́ bà chánh án ngưng luật sư Clanton lại, nói rằng quyền tự trị đại học cho phép họ muốn nói ǵ th́ nói, muốn viết ǵ th́ viết, đó là cái quyền của họ.  Khi nghe bà chánh án nói như vậy tôi hơi lo ngại, nhưng luật sư Clanton rất b́nh tĩnh trả lời bà chánh án rằng: “Luật của tiểu bang Massachussetts cấm không được kỳ thị dựa trên “creed” (bao hàm nghĩa là tín điều hay tín ngưỡng).

 

Bà chánh án hỏi lại luật sư Clanton rằng: “Vậy chủ nghĩa CS là một tín điều?  Luật sư Clanton trả lời rằng: “Vâng, đúng như vậy.”  Bà chánh án cúi xuống ghi nhận điều nầy.  Bà chánh án cũng không biết quốc tịch gốc của Nguyễn Bá Chung.  Bà hỏi rằng: “Ông Nguyễn Bá Chung là người Việt Nam à?” và ba lần nhắc luật sư Clanton nên mau chóng kết thúc, trong khi ông Clanton tŕnh bày rất rành rọt từng đoạn trích trên màn ảnh cũng như dẫn giải.

 

Bà chánh án vừa nghe dẫn giải, vừa đọc từng đoạn trích dẫn.  Sau khi đă tŕnh bày 140 đoạn trích dẫn, luật sư Clanton kết luận: WJC đă có hành động kỳ thị dựa trên “creed [tín điều & tín ngưỡng]” và kỳ thị dựa trên quốc tịch gốc là VNCH. 

 

Khi luật sư Clanton dứt lời, để kết thúc phiên ṭa, bà chánh án có đôi lời với luật sư của cả hai bên.  Về  phía luật sư của bị cáo, bà nói một câu khó hiểu: “Ông có những lư luận mạnh [strong argument]”.  Quay qua luật sư Clanton, bà hỏi rằng: “Ông c̣n ǵ nữa không?”  Luật sư Clanton nhắc tới đơn của nguyên đơn xin cưỡng chế bị cáo phải giao nộp tài liệu, thi hành lịch tŕnh của Ṭa và xin Toà trừng phạt (sanction) bị cáo v́ đă cố t́nh kéo dài vụ kiện để lẩn tránh trách nhiệm trong hơn ba năm qua.  Nghe đến đây, bà chánh án quay sang phía luật sư của bị cáo nhắc lại lời của luật sư Clanton rằng: “Motion to compel”, tức là đơn xin cưỡng chế.  Cuối cùng, bà cho biết là bà cần thêm thời gian để nghiên cứu và cân nhắc vấn đề.

 

Khi bà chánh án rời pḥng xử, các viên chức ṭa án và các viên chức an ninh đă chạy lại chỗ luật sư Clanton nói rằng: “Ông tŕnh bày vấn đề rất rơ ràng, minh bạch, dễ hiểu”.  Những người đến tham dự các vụ kiện trước ngồi lại nghe buổi điều trần, cũng đến nói với luật sư Clanton: “Khi nghe luật sư trước tŕnh bày th́ chúng tôi không hiểu ǵ hết, nhưng khi nghe ông nói th́ chúng tôi mới hiểu được vấn đề.”

 

Sau khi ra khỏi pḥng xử, luật sư Clanton cho tôi biết là phải đợi bà chánh án quyết định.  Ông hy vọng ngày tiền nghị án sẽ xảy ra sớm hơn là dự tính v́ theo lịch tŕnh của ṭa án th́ 31-7-2004, hai bên nguyên đơn và bị cáo phải nộp kết quả cuộc điều tra lên chánh án để chánh án quyết định ngày tiền nghị án.  Tiền nghị án là ngày chánh án làm việc với luật sư hai bên nguyên đơn và bị cáo để hai bên cho biết việc chọn ngày xử thuận tiện cho cả hai bên và sẽ đem những vấn đề ǵ ra xét xử.  Theo thông lệ, ngày xử chính thức sẽ sau ngày tiền nghị án 4 hoặc 6 tuần lễ.  Luật sư Clanton dự tính rằng ngày tiền nghị án có thể xảy ra trong khoảng tháng 8.  Đây là những kết quả đầu tiên mà chúng tôi ghi nhận được về diễn tiến vụ án nầy.

 

Đến đây, tôi xin tŕnh bày thêm về trường hợp bà chánh án Janet Sanders.  Trước đây, WJC đă xin hoăn ngày tiền nghị án ba lần, mỗi lần một tháng.  Theo thủ tục tại tiểu bang Massachusetts, các Chánh án làm việc luân phiên, mỗi vị hai tháng.  Đến lần thứ tư, đột nhiên WJC xin hoăn ngày tiền nghị án trong 8 tháng, từ tháng 12-2002 cho đến tháng 8-2003.  Lúc bấy giờ tôi yên chí rằng họ xin hoăn để làm xong chương tŕnh trước khi xử án, nhưng không phải vậy.  WJC và UMass Boston biết tháng nào ai là chánh án, nên họ đợi đến phiên bà Janet Sanders ngồi ghế chánh án, họ mới đưa ra đề nghị bác bỏ “class action”, bởi v́ “class action” rất quan trọng, có thế rất mạnh và gây tổn thất cho Viện Đại học rất lớn khi thua kiện.  Cần chú ư là bà chánh án trước đây không biết rằng ông Nguyễn Bá Chung, Giám đốc Chương tŕnh nghiên cứu là người Việt Nam và về ư thức hệ, cho tới nay, vẫn là 2 nước VN như trước năm 1975.  Trong khi hoăn ngày tiền nghị án trong 8 tháng, WJC và UMass Boston tiếp tục vận động để gây khó khăn cho CĐNV.  Họ lập đơn xin Ṭa bác bỏ “class action”.  Việc nầy được bà cháng án Janet Sanders chấp thuận vào tháng 5-2003.  Khi quyết định bác bỏ “class action”, bà chánh án Janet Sanders đă bút phê rơ ràng rằng WJC đă thuê mướn hai người VN rồi, [Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi], như vậy đâu có vấn đề kỳ thị quốc tịch?

 

Trước quyết định nầy, luật sư Keane không hề có sự phản kháng theo lời chúng tôi yêu cầu.  Ông lại viết một lá thư báo rằng kể từ lúc đó, theo lệnh của chánh án, ngoại trừ Nguyễn Hữu Luyện là người của tiểu bang, các nguyên đơn khác ở ngoài tiểu bang Massachusetts không c̣n là thành viên của vụ kiện nữa.  Tuy nhiên, sau khi luật sư Keane bàn giao cho hai luật sư mới, các luật sư mới đă đưa các nguyên đơn khác trở lại vụ án như cũ.  Như trên đă nói, bà Janet Sanders đă nghe luật sư cả hai bên tŕnh bày, và điểm quan trọng là cho đến phiên điều trần hôm nay, bà chánh án mới biết rằng Nguyễn Bá Chung là người VN và trước đây có hai nước VN, trong đó, cái nước VN kia đă kỳ thị chống lại nước VN của CĐNV.

 

Câu hỏi 5:  Có một vấn đề khá tế nhị, nhưng cũng cần được đặt ra là xin anh vui ḷng cho biết, kinh phí vụ kiện như thế nào?  Và các anh đă làm như thế nào để có kinh phí lo vụ kiện nầy?

 

NHL:  Thưa anh về vấn đề kinh phí có thể chia làm hai giai đoạn, tùy thuộc vào hai tổ hợp luật sư khác nhau.  Trong giai đoạn đầu, tôi nhờ luật sư Keane ước tính xem chi phí tôi phải trả từ khi bắt đầu đến khi kết thúc vụ kiện là bao nhiêu?  Ông Keane ước tính là 100,000 Mỹ kim.  Tôi đă loan báo với Cộng đồng, vận động mở Quỹ pháp lư do ông Mai Văn An làm thủ quỹ, xin đồng bào giúp đỡ.  Đến tháng 10-2002, khi đồng bào ủng hộ đủ 100,000 đồng, chúng tôi đă đóng quỹ, không nhận thêm tiền nữa. Tuy nhiên vẫn c̣n nhiều người ủng hộ, và ông thủ quỹ Mai Văn An đă trả ngân phiếu lại cho những vị hảo tâm nầy.  Khi tổ hợp luật sư cũ ngưng vụ kiện, họ tính chi phí chúng ta phải trả cho họ là 55,000 Mỹ kim.  Như thế, Quỹ pháp lư c̣n lại 45,000 Mỹ kim.

 

Sau khi thay đổi luật sư, tôi cũng đă nhờ tổ hợp luật sư mới ước tính chi phí vụ án, và được biết là cộng chung các khoản chi phí của Luật sư khoảng trên 98,000 Mỹ kim.  Chúng tôi lại mở lại Quỹ pháp lư và xin đồng bào cho chẵn 100,000 Mỹ Kim cho gọn, trong đó chúng ta c̣n 45,000 Mỹ kim của quỹ cũ, nay chúng tôi xin đồng bào ủng hộ thêm 55,000 Mỹ kim nữa.  Ngày 7-2-2004, trong một bữa cơm gây quỹ, đồng bào Bắc Cali đă giúp thêm cho Quỹ pháp lư 25,000.  Như thế, cộng với số tiền 45,000 cũ, số tiền mới lên được 70,000.  Ngày 4-4-2004 vừa qua, đồng bào Nam Cali đă quyên góp giúp Quỹ pháp lư thêm 30,000 nữa.  Như vậy số tiền để trả luật sư đă đủ 100,000 Mỹ Kim.  Chúng tôi đă loan báo đóng Quỹ pháp lư từ ngày 9-4-2004.  Chúng tôi cũng đă thông báo rơ là chúng tôi xin hoàn lại tiền quư vị hảo tâm gởi về Quỹ pháp lư sau ngày 9-4-2004.

 

Đă hơn 3 năm qua, chúng ta đă nói nhiều về vụ kiện WJC, nhưng chúng ta nói cho chúng ta nghe với nhau thôi.  Trong khi dư luận chính yếu có ảnh hưởng quyết định đối với vụ án là dư luận của xă hội Hoa Ky [mainstream society].  Dân chúng, báo chí, truyền thanh, truyền h́nh, các nhân vật có thẩm quyền trong chính giới Hoa Kỳ, hầu như không ai biết về vụ án nầy, một bằng chứng rất rơ là ngay cả bà Chánh án là người đă từng bác bỏ “class action” mà vẫn chưa biết ǵ về việc Giám đốc chương tŕnh là người VN với hệ tư tương thù nghịch với CĐNV là đối tượng nghiên cứu của chương tŕnh này. 

 

Bây giờ vụ kiện đang bước vào giai đoạn quyết định, chúng ta cần chuyển các thông tin chính xác về vụ kiện vào chính giới Hoa kỳ.  Do đó, ở Houston, nhóm yểm trợ Vụ kiện WJC đă tổ chức bữa cơm gây quỹ, không phải để chuyển về Quỹ pháp lư mà là để tổ chức Đại Hội Mười Ngàn Người.  Đồng bào đă ủng hộ hơn 19,000 Mỹ Kim, chi phí 4,000, và c̣n được 15,000 để dùng vào việc chi phí cho Đại hội Mười Ngàn Người, dự tính vào tháng 7 sắp tới.  Đại hội sẽ mời đại diện CĐNV của các tiểu bang Hoa Kỳ và CĐNV tại các quốc gia khác trên khắp thế giới về dự.  Quư vị đó sẽ mang theo biểu ngữ và cờ của quốc gia đang lưu trú.  Quan khách chính của Đại Hội Mười Ngàn Người là giới báo chí, radio, truyền h́nh, và các nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ để họ chứng kiến mối quan tâm lớn lao của CDNV đối với việc làm cực kỳ nghiêm trọng của WJC/Umass Boston.  Đại Hội này sẽ giúp quần chúng Mỹ thấy rơ phản ứng của CĐNV đối với Viện đại học UMass Boston, và thấy rơ tầm mức quan trọng của Chương tŕnh nghiên cứu của WJC/Umass Boston đối với lịch sử của Cộng đồng người Mỹ gốc Việt và CĐNV khắp nơi trên thế giới.

 

Sau đó, chúng tôi dự tính sẽ tổ chức một cuộc tiếp tân ở Washington D. C., trung tâm quyền lực của Hoa Kỳ, nhắm mục đích mời các giới có thẩm quyền ở Ṭa Bạch Ốc và Quốc Hội tới dự để các vị đó tận mắt nh́n thấy những sự việc đang xảy ra trong CĐ người Mỹ gốc Việt.  Chúng tôi sẽ bán vé để lấy tiền trang trải chi phí cho buổi tiếp tân đó.  Chắc chắn giá vé vừa đủ để chi phí, không lấy thêm một đồng nào cho Quỹ pháp lư.  Ngoài ra, chúng tôi cũng đă được CĐNV tại Massachusetts cho biết, sắp tới sẽ tổ chức hội thảo để đồng bào ta tại Boston được hiểu rơ về ư nghiă quan trọng của vụ kiện WJC đối với lịch sử CĐNV tại hải ngoại.

 

Đấy là những việc chúng tôi dự tính làm để tạo dư luận mạnh mẽ yểm trợ cho vụ kiện nầy nhằm củng cố khả năng chống trả áp lực chính trị nặng nề của một trường đại học lớn, được chính quyền tiểu bang che chở, và đàng sau lại có bàn tay của nham hiểm của Việt cộng Hà Nội.

 

Câu hỏi 6:  Chúng ta đang nói về vụ kiện, mà kiện th́ kết quả có thể là tốt hay không tốt.  Nếu trong trường hợp kết quả không tốt, tức thua kiện th́ anh sẽ làm ǵ?  Và nếu kết quả tốt, nghĩa là thắng kiện, th́ sẽ làm ǵ, anh có thể cho biết điều nầy?

 

NHL:  Chúng tôi đă dự tính trước là mặc dù chúng ta có đầy đủ chứng cớ về sự vi phạm luật pháp của WJC/Umass Boston, nhưng chúng ta không loại bỏ khả năng có thể bị phán quyết sai, v́ áp lực chính trị quá nặng.  Trong hoàn cảnh đó, chúng ta sẽ chống án.  Chúng ta PHẢI theo đuổi vụ án nầy đến cùng.  Khi mang vụ án nầy ra khỏi tiểu bang, sẽ không c̣n áp lực chính trị nữa, chắc chắn chúng ta sẽ thắng.  Chúng ta là những người Mỹ gốc Việt.  Chúng ta được luật pháp bảo vệ và chúng ta cương quyết đ̣i hỏi sự che chở của luật pháp.  Không phải là tuyệt đối, nhưng luật pháp Hoa Kỳ tương đối có những công bằng và hợp lư của nó, và chúng ta có thể tin tưởng vào kết quả phán xét cuối cùng của  công lư Hoa Kỳ.  Thoát khỏi áp lực chính trị của tiểu bang, chúng ta đương nhiên sẽ t́m thấy công lư, lúc đó thắng lợi thuộc về công lư hay nói khác đi, thuộc về chúng ta.  Vấn đề đặt ra là chúng ta phải quyết tâm, kiên nhẫn, bền bỉ theo đuổi vụ án đến cùng, chắc chắn chúng ta sẽ giành phần thắng.  Chúng ta phải thắng vụ kiện nầy để bảo vệ vị trí lịch sử của CĐNV tỵ nạn Cộng Sản.  Đấy là mục tiêu vô cùng quan trọng của CĐNV chúng ta.

 

Sau khi thắng kiện, chắc chắn chúng ta sẽ có một số tiền bồi thường lớn.  Tất cả các nguyên đơn đă quyết định không một ai lấy một đồng nào trong số tiền bồi thường nầy và toàn bộ số tiền nầy sẽ được dùng để cống hiến cho một trường đại học có uy tín hoặc một trung tâm nghiên cứu có uy tín, để thực hiện một chương tŕnh nghiên cứu trung thực, vô tư để chúng ta đưa vào kho tàng văn học và lịch sử Hoa Kỳ và nhân loại, một tài liệu nghiên cứu chân chính về CĐNV tỵ nạn cộng sản như đă tŕnh bầy trong câu hỏi số 3.

 

Câu hỏi 7:  Cảm ơn anh đă cho biết đầy đủ về vụ kiện WJC.  Chúng tôi luôn luôn mong muốn rằng nhóm nguyên đơn sẽ thắng kiện, nhưng nếu có những điều không thuận lợi xảy ra, chúng tôi tin tưởng rằng tất cả những người tỵ nạn CS, tức CĐNV hải ngoại, sẽ luôn luôn đứng đàng sau lưng và hỗ trợ các anh.  C̣n lại một vấn đề hoàn toàn cá nhân.  Chúng tôi nghe nói rằng anh bị Viện đại học UMass Boston từ khước không cho anh triển hạn theo luật định để nộp luận án cao học.  Anh có thể cho biết rơ ràng vấn đề nầy, và anh cho biết đây là một vấn đề riêng tư của anh hay đây là một vấn đề liên hệ đến vụ kiện của Cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản?

 

NHL:  Thưa anh, vụ kiện nầy xảy ra vào tháng 3-2000, th́ tháng 5-2000 tôi học xong chương tŕnh cao hoc và đă dự lễ ra trường vào mùa hè năm 2000.  Trong Lễ ra trường, mỗi sinh viên được phát một văn bằng tượng trưng, chứ không phải văn bằng chính thức.  Sau đó, các sinh viên về trường, nộp luận án th́ mới có văn bằng chính thức.  Nếu làm không kịp th́ sinh viên có thể xin triển hạn từng năm một, và mỗi sinh viên được quyền triển hạn 5 lần trong 5 năm.  Riêng trường UMass Boston lại c̣n cho thêm 2 năm nữa cho sinh viên triển hạn nộp luận án cao học, nghĩa là trước sau được triển hạn 7 năm.  Mỗi lần xin triển hạn, để duy tŕ vị trí sinh viên, phải đóng tiền mỗi năm hơn 200 Mỹ Kim.

 

Riêng tôi, v́ quá bận rộn theo đuổi vụ án, chưa làm xong luận án Cao học, nên hàng năm tôi đă điền đơn xin triển hạn và đóng tiền lệ phí đầy đủ.  Từ năm 2000 đến nay, tôi mới xin triển hạn 3 lần.  Đột nhiên, đến năm nay, 2004, Viện đại học UMass Boston bác đơn xin triển hạn của tôi.  Điều nầy có nghĩa là tôi bị đuổi ra khỏi trường, và tất cả công lao tôi đă dành ra trong hai năm để theo đuổi chương tŕnh cao học hoàn toàn bị phế bỏ, v́ không thể nộp luận án để lấy văn bằng tại trường đại học khác.